DỰ TRỮ QUỐC GIA

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC - BỘ TÀI CHÍNH

Bộ Tài chính ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước

26/06/2026 16:20

Ngày 16/6/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 1566/QĐ-BTC về Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của Bộ Tài chính, thay thế Quyết định số 1500/QĐ-BTC ngày 01/10/2020.

Việc ban hành Quy chế mới nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn ngành Tài chính, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ mới. Ngay sau khi Quy chế được ban hành, Cục Dự trữ Nhà nước đã chủ động rà soát, nghiên cứu các nội dung mới để kịp thời sửa đổi, hoàn thiện các quy định nội bộ, bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ Tài chính và yêu cầu công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình mới.

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo vệ bí mật nhà nước

Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của Bộ Tài chính gồm 03 chương, 22 điều, quy định về trách nhiệm trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước; việc xác định bí mật nhà nước và độ mật; sao, chụp, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, giao nhận, cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước; tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước; giải mật, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; chế độ báo cáo và các nội dung liên quan khác.

Alt
Ngày 16/6/2026, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1566/QĐ-BTC về ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của Bộ Tài chính.

Quy chế được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý của Bộ Tài chính; bảo đảm các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước được quản lý chặt chẽ, đúng quy định; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong việc giữ gìn bí mật nhà nước.

Trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số ngày càng sâu rộng, công tác bảo vệ bí mật nhà nước không chỉ dừng lại ở việc quản lý tài liệu giấy mà còn đòi hỏi các biện pháp quản lý, bảo vệ đối với dữ liệu điện tử, hệ thống thông tin và môi trường mạng. Vì vậy, việc ban hành Quy chế mới có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện và xử lý các nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước.

Nghiêm cấm các hành vi xâm phạm bí mật nhà nước

Một trong những nội dung đáng chú ý của Quy chế là quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm nhằm phòng ngừa nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước. Theo đó, nghiêm cấm việc xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước; làm lộ, chiếm đoạt, mua bán bí mật nhà nước; thu thập, trao đổi, cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước trái pháp luật; làm sai lệch, hư hỏng hoặc làm mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.

Quy chế cũng nghiêm cấm việc sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao nhận, thu hồi, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trái quy định; mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ trái pháp luật; lợi dụng việc bảo vệ bí mật nhà nước để che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Alt
Quy chế nghiêm cấm việc soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước trên các thiết bị, hệ thống không bảo đảm an ninh, an toàn; truyền đưa, đăng tải hoặc phát tán bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng viễn thông trái quy định (Ảnh: Internet).

Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, Quy chế bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước trên môi trường điện tử. Theo đó, nghiêm cấm việc soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước trên các thiết bị, hệ thống không bảo đảm an ninh, an toàn; truyền đưa, đăng tải hoặc phát tán bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng viễn thông trái quy định; sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình, thu phát tín hiệu trong các cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước khi chưa được phép; sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc các công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước.

Tăng cường chế độ báo cáo và kiểm tra, giám sát

Để bảo đảm công tác bảo vệ bí mật nhà nước được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, Quy chế quy định rõ chế độ báo cáo của các đơn vị thuộc Bộ Tài chính.

Theo đó, người đứng đầu các đơn vị có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý gửi Văn phòng Bộ để tổng hợp. Báo cáo định kỳ được thực hiện hằng năm hoặc theo yêu cầu của Bộ Công an; báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Thời hạn chốt số liệu trong chế độ báo cáo hằng năm: tính từ ngày 15/12 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14/12 của kỳ báo cáo. Báo cáo định kỳ hằng năm gửi Văn phòng Bộ chậm nhất vào ngày 17/12 của năm báo cáo.

Việc thực hiện nghiêm chế độ báo cáo giúp các cơ quan quản lý kịp thời nắm bắt tình hình, đánh giá những tồn tại, hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn ngành./.

Văn phòng Cục
Tệp đính kèm

Các tin đã đăng
Bản đồ hành chính