Ưu tiên nguồn lực đầu tư, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là một trong những điểm nhấn quan trọng nhằm hiện đại hóa hoạt động dự trữ quốc gia. Đây là định hướng quan trọng được thể hiện tại Thông tư số 68/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính, góp phần tạo cơ sở để từng bước đổi mới quy trình quản lý, nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược.
 |
|
Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng giải pháp kỹ thuật, công nghệ bảo quản
trong lĩnh vực dự trữ quốc gia.
|
Thông tư số 68/2026/TT-BTC ngày 18/6/2026 của Bộ Tài chính quy định về nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về dự trữ quốc gia. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
Theo Thông tư, việc hiện đại hóa hoạt động dự trữ quốc gia không chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành mà còn được triển khai trong các khâu nghiệp vụ cụ thể như nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ; số hóa hồ sơ, chứng từ; ứng dụng công nghệ bảo quản tiên tiến, kho thông minh, thiết bị giám sát, thu thập dữ liệu và kết nối, chia sẻ dữ liệu trên Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về dự trữ quốc gia.
Hiện đại hóa từ khâu nhập, xuất đến bảo quản hàng dự trữ
Từ định hướng ưu tiên nguồn lực đầu tư, Thông tư đặt trọng tâm vào đổi mới quy trình nghiệp vụ, hiện đại hóa các khâu nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược thông qua cơ giới hóa, tự động hóa và số hóa. Việc tiếp nhận, kiểm đếm, cân đo, lập hồ sơ, chứng từ, bàn giao được định hướng thực hiện theo hướng nhanh chóng, kịp thời, có khả năng ghi nhận, lưu vết, đối soát và cập nhật đầy đủ trên Hệ thống.
 |
| Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, giám sát hoạt động dự trữ quốc gia. |
Đối với công tác bảo quản, Thông tư định hướng tiếp thu, chuyển giao có chọn lọc công nghệ bảo quản tiên tiến; ứng dụng công nghệ kho thông minh, hiện đại hóa trang thiết bị, tăng cường thiết bị giám sát, thu thập dữ liệu để quản lý, vận hành kho an toàn, kiểm soát chất lượng hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược.
Cùng với việc ưu tiên nguồn lực đầu tư, Thông tư cũng định hướng mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, công nghệ kỹ thuật cao vào hoạt động dự trữ quốc gia; đồng thời chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công tác nhập, xuất và bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược.
Thông tư khuyến khích, ghi nhận các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cung cấp miễn phí giải pháp kỹ thuật, phát minh, sáng chế, ứng dụng công nghệ bảo quản, công nghệ thông tin phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành, nhập, xuất và bảo quản hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược.
Trước khi ghi nhận, biểu dương, khen thưởng, các giải pháp kỹ thuật, phát minh, sáng chế, ứng dụng công nghệ bảo quản, công nghệ thông tin phải được đánh giá, bảo đảm tính bảo mật, an toàn, hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật. Các giải pháp được ghi nhận là căn cứ để xem xét ưu tiên áp dụng, nhân rộng hoặc đề xuất tham gia các chương trình, nhiệm vụ có liên quan theo quy định.
Kết nối, chia sẻ dữ liệu về dự trữ quốc gia
Bên cạnh yêu cầu ứng dụng công nghệ trong quản lý, nhập, xuất và bảo quản hàng dự trữ quốc gia, Thông tư số 68/2026/TT-BTC cũng quy định rõ về Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về dự trữ quốc gia. Đây là hệ thống được xây dựng để thu thập, chuẩn hóa, cập nhật, kết nối, chia sẻ, quản lý, lưu trữ và khai thác thông tin, dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước và điều hành hoạt động dự trữ quốc gia trên môi trường số.
Theo Thông tư, việc thu thập, chuẩn hóa, cập nhật, kết nối, chia sẻ dữ liệu được thực hiện theo phương thức tự động thông qua cơ chế kết nối giữa các hệ thống thông tin bằng giao diện lập trình ứng dụng (API). Trường hợp chưa đủ điều kiện kết nối tự động thì thực hiện cập nhật trực tiếp trên Hệ thống theo phân công, phân cấp, phân quyền. Việc cập nhật dữ liệu được thực hiện theo thời gian thực hoặc theo quy định tại Quy chế quản lý, khai thác, vận hành Hệ thống.
Thông tư phân định rõ trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu của các chủ thể liên quan. Đơn vị thực hiện dự trữ quốc gia cập nhật dữ liệu về quản lý, bảo quản, nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ chiến lược; đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp nhận hợp đồng thuê bảo quản cập nhật dữ liệu, báo cáo định kỳ và đột xuất về nhập, xuất, bảo quản, tồn kho theo hợp đồng và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan thực hiện kết nối, cập nhật thông tin, dữ liệu trên Hệ thống để phục vụ quản lý, giám sát, điều hành.
Bên cập nhật thông tin, dữ liệu chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực, chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin, dữ liệu. Trong thời gian Hệ thống chưa đi vào vận hành, việc thu thập, cập nhật, quản lý, khai thác, cung cấp thông tin, dữ liệu tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp quản lý về dự trữ quốc gia phải hoàn thành kết nối, tích hợp, liên thông, đồng bộ dữ liệu với Hệ thống trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Hệ thống đi vào vận hành.
Để bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin, Thông tư quy định Hệ thống phải được bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Chuyển đổi số và các quy định hiện hành về an toàn, an ninh thông tin. Hệ thống phải bảo đảm tính toàn vẹn, tin cậy, sẵn sàng khi lưu trữ, khai thác, trao đổi dữ liệu; có cơ chế sao lưu, lưu trữ dự phòng, phòng chống, kiểm soát mã độc và phương án khôi phục khi xảy ra sự cố.
Việc chia sẻ, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu từ Hệ thống phải bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; áp dụng các biện pháp kỹ thuật, quản lý nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hành vi truy cập trái phép, tiết lộ, sửa đổi, hủy hoại hoặc làm sai lệch dữ liệu theo quy định của pháp luật./.